CÁC SẢN PHẨM DINH DƯỠNG VÀ CÁC CHẤT BỔ SUNG

Các axít béo Omega 3

Gần đây các axít béo Omega 3 được bàn tới nhiều.

Các axít chủ yếu Omega-3 được khám phá đầu tiên vào những năm 1970. Từ đó tới nay đã có hàng ngàn cuộc nghiên cứu và thử nghiệm lâm sàng. Giờ đây chúng ta biết đích xác rằng những axít này bảo vệ chống lại bệnh tật và có thể chữa bệnh.

Thế nhưng ít người biết được những axít béo này là gì, chúng làm điều gì và làm thế nào để có sự hấp thụ đầy đủ từ thực phẩm. Kinh nghiệm của tôi cho thấy rằng rất ít người biết được tầm quan trọng và lợi ích những axít này mang lại cho sức khỏe của chúng ta.

Vậy axít béo Omega-3 là gì? Omega-3 là tên đặt cho họ axít béo chưa bão hòa. Axit bố mẹ  omega-3-alpha-linolenic không thể tạo thành trong cơ thể được. Nó thiết yếu như vitamins. Nó được hấp thu từ chế độ ăn uống. Tất cả các axít omega 3 khác có thể được cơ thể tạo thành.

Tuy nhiên, từ quan điểm dinh dưỡng con người, một số axít chuỗi dài hơn như eicosapentaenoic acid và docosahexaenoic acid (EPA và DHA) được coi là quí giá hơn nhiều, vì đây là những thành phần cơ thể đòi hỏi. Trên lý thuyết cơ thể có thể tổng hợp EPA và DHA từ chế độ ăn uống có alpha linoleic axít, tuy nhiên trong thực tế quá trình này không hiệu quả. Vì thế các nhà khoa học kết luận rằng cần phải hấp thu EPA và DHA từ chế độ ăn uống. Các loại cá có nhiều dầu và các thành phẩn bổ sung như dầu cá và dầu cá moruy là nguồn phong phú và có sẵn để  cung cấp những loại axít omega 3 này. Dầu lanh và một số dầu thực vật khác cũng là nguồn cung cấp axít này, nhưng vì một số lý do, dầu cá tốt hơn nhiều trong việc cung cấp axít béo chuỗi dài omega 3.

Axít béo omega 3 đóng một vai trò quan trọng như là chất dầu màng cấu trúc, đặc biệt là trong tế bào thần kinh và võng mạc, nó được dùng như là nguyên liệu đầu tiên để tạo thành một số những hormones và các chất hóa học quan trọng trong cơ thể.

Axít béo omega 3 rất quan trọng đối với sức khỏe. Chúng là những phân tử tạo thành cấu trúc và hoạt động của các màng tế bào khắp trong cơ thể. Chúng có những chức năng hết sức đặc biệt trong tế bào thần kinh, đặc biệt não bộ và võng mạc. Vì vai trò tạo màng trong tế bào, axít béo omega 3 rất thiết yếu trong việc tạo thành tế bào mới và vì thế rất quan trọng đối với sự phát triển và lớn lên.

Ngay cả trước khi sinh, các axít béo omega 3 rất quan trọng đối với sự phát triển não bộ và thị giác trong ba tháng cuối thai kỳ, các axít béo omega 3 tiếp tục đóng một vai trò quan trọng ở mỗi giai đoạn đời sống qua sự phòng ngừa và khống chế một số bệnh tật và nhiều loại bệnh kinh niên.

Thời kỳ trẻ thơ khi trẻ con phát triển trong thai kỳ thứ ba, bộ óc và hệ thần kinh bắt đầu tích lũy DHA, một trong những  axít béo omega 3 được tìm thấy trong dầu cá như cá hồi. DHA là thành phần thiết yếu tạo nên tế bào não, làm cho thần kinh phát triển và trợ giúp võng mạc mắt. Trước khi sinh trẻ hấp thu DHA cần thiết từ mẹ, sau khi sinh chúng hấp thu từ sữa mẹ.

Trẻ hấp thu DHA nhiều nếu bà mẹ cho con bú ăn nhiều cá. Trẻ bú bình có thể không đủ các loại axít béo omega 3  nếu trong công thức sữa không được bổ sung các loại axít không bão hòa bao gồm DHA. Cho tới gần đây, nhiều loại sữa cho trẻ em không có các loại axít béo chuỗi dài (LCPs). Các cuộc nghiên cứu cho thấy não bộ của trẻ bú bình có ít DHA trong tế bào thần kinh hơn là trẻ bú mẹ và sự phát triển mắt của chúng có thể chậm. Trẻ sinh thiếu tháng có ít DHA trong tế bào của chúng hơn là trẻ sinh bình thường. Những đứa trẻ này có thể theo kịp nếu chúng được bú sữa mẹ hay ăn uống có công thức bổ sung.
Những đứa trẻ có bổ sung DHA trong công thức dinh dưỡng không chỉ tỏ ra có khả năng giải quyết vấn đề hơn hẳn khi được thử nghiệm (độ 4 tháng tuổi) mà ở độ tuổi lên sáu cũng vậy. Các cuộc nghiên cứu cho thấy chúng tiếp tục tỏ ra có khả năng giải quyết vấn đề  và khả năng quyết định vượt trội.

Dị ứng và suyễn Các cuộc nghiên cứu cho thấy mất cân bằng axít béo chưa bão hòa với lượng cao axít béo omega-6 và lượng thấp axít béo omega-3 làm tăng gia tình trạng dị ứng. Người ta ngạc nhiên thấy rằng những trẻ ăn nhiều cá có dầu có mức độ nguy cơ bị suyễn nhỏ hơn bốn lần so với trẻ ít khi ăn cá loại này. Cá có dầu cũng có ích trong điều trị các bệnh về phổi như xơ hóa nang phổi.

Thiếu niên cũng chịu nhiều biến đổi trong giai đoạn chuyển tiếp tới tuổi trưởng thành. Thể xác chúng thay đổi và chúng phải thích nghi với những biến động về tinh thần do những biến động hormones và áp lực trở nên một cá nhân độc lập, xây dựng sự nghiệp và đời sống xã hội.

Tình trạng kém khả năng đọc và hiếu động quá mức axít béo chưa bão hòa có liên quan tới chức năng não. Các cuộc nghiên cứu ở Anh và Mỹ cho thấy kết quả tốt khi một nhóm trẻ có khó khăn về học tập và xử sự được cung cấp bổ sung dầu cá. Các nhà nghiên cứu tin rằng sự thiếu axít béo làm cho các thông tin ở não không được truyền đạt đúng – dẫn tới khó khăn trong học tập vì sự mất cân bằng hóa học.

Sự hung hăng và trầm cảm người ta thấy rằng những tội phạm vị thành niên tính tình hung bạo giảm được cảm giác tức giận và tính bạo lực khi được bổ sung DHA.

Các cuộc nghiên cứu cũng cho thấy mức axít béo chưa bão hòa omega-3 thấp ở trong máu người bị trầm cảm; một cuộc nghiên cứu quan trọng khác cũng cho thấy ảnh hưởng của dầu cá đối với một nhóm bệnh nhân bị trầm cảm nghiêm trọng (khuynh hướng tự tử) đã được nhập viên. Sau 4 tháng được cho uống dầu cá tình trạng những bệnh nhân này cải thiện rõ rệt so với nhóm được cho uống giả dược (để đối chứng), cuộc thử nghiệm chấm dứt sau 4 tháng vì người ta nghĩ rằng không nên để  nhóm đối chứng bị thiệt thòi vì không được chữa trị bằng dầu cá, nhóm đối chứng được uống dầu olive.

Mức độ tự tử liên quan tới tình trạng trầm cảm cao nhất ở thanh niên. Các cuộc nghiên cứu ở Mỹ chỉ ra rằng axít béo chưa bão hòa omega-3 có một vai trò tích cực. Người ta thấy rằng bệnh nhân bị trầm cảm có mức độ axít béo chưa bão hòa omega-3 thấp và những bệnh nhân bị trầm cảm nặng đã hồi phục nhiều khi được chữa trị với dầu cá.

Thai kỳ tuần thứ 20 tới 30 – Trong giai đoạn thứ ba của thai kỳ (ba tháng cuối cùng) điều quan trọng là phải cung cấp cho người mẹ lượng axít béo chưa bão hòa omega-3 đầy đủ. Khoảng 70 phần trăm tế bào não người lớn được tạo thành trong thời kỳ này. Omega-3 DHA chủ yếu trong quá trình này do người mẹ cung cấp qua nhau thai.

Nếu chế độ ăn uống của người mẹ không cung cấp đủ DHA cho nhu cầu của đứa trẻ thì dự trữ trong cơ thể của người mẹ sẽ được lấy ra để bù cho chỗ thiếu hụt. Nhiều chuyên gia nghĩ rằng não bộ là nguồn phong phú chất DHA, bộ não của người mẹ sẽ là nguồn cung cấp DHA cho nhu cầu của đứa trẻ. So sánh qua nhiều  nước cho thấy những nước ăn ít cá có mức độ trầm cảm sau khi sinh cao hơn những nước có mức độ ăn nhiều cá. Người ta chưa biết có phải vì sự mất DHA trong não trong thời kỳ mang thai hay không.

Nếu không có đủ DHA cho bào thai phát triển đứa trẻ có thể bị ảnh hưởng làm giảm IQ và thị lực kém.

Người ta cũng cho rằng omega-3 EPA có thể ngăn ngừa trẻ sinh thiếu tháng và có một số bằng chứng cho thấy chứng kinh giật (preclampsia) một tình trạng nguy hiểm đe dọa tính mạng khi có thai, có thể liên quan tới sự thiếu axít béo omega-3.

Tuổi trung niên Thời kỳ 40 tới 50 tuổi hầu hết con người có lúc bị ảnh hưởng bởi bệnh tình nghiêm trọng hay cái chết của một người nào đó trạc tuổi với mình. Bệnh ung thư và tim có thể giết chết người ở tuổi trẻ, đặc biệt ở những nước công nghiệp như ở phương Tây. Các bệnh tuổi già tới có thể làm cho người ta thấy mình đã tới giai đoạn này.

Sự trầm cảm

Bệnh tim Có nhiều bằng chứng cho thấy axít béo chưa bão hòa omega-3 có thể bảo vệ con người chống lại cơn đau tim và cái chết bất thình lình. Ăn hai bữa cá mỗi tuần hoặc uống viên dầu cá 1g omega-3 có thể làm giảm nguy cơ chết đột ngột do cơn đau tim. Người bị bệnh tim nên tham khảo bác sĩ để dùng thuốc có omega-3.

Ung thư Có bằng chứng cho thấy ăn uống có nhiều omega-3 có thể bảo vệ chống lại ung thư tiền liệt tuyến và ung thư vú hoặc ức chế bứu hiện có. Từ cuộc nghiên cứu trong phòng thí nghiệm về một số chứng ung thư như ung thư ruột kết, có khả năng là axít béo omega-3 kích thích làm chết tế bào ung thư.

Người ta cũng thấy rằng trong giai đoạn ‘mùa thu” của cuộc đời, những triệu chứng sớm của bệnh kinh niên, thoái hóa bắt đầu xuất hiện. Nhiều bệnh do kết quả của chế độ ăn uống không đủ trong một thời gian dài, sự chọn lựa cách sống thay đổi ngay cả vào thời kỳ này cũng có thể cải thiện được cuộc sống.

Ngưng hút thuốc

Bắt đầu tập thể dục

Ăn nhiều trái cây và rau

Ăn ít mỡ bão hòa và thực phẩm chế biến

Cân bằng việc hấp thu omega-6 /omega-3 (thử dùng tỉ lệ 1:2 hay 1:3 omega-3 đối với omega-6)

Bệnh phổi Các nhà nghiên cứu ở Viện Đại Học Minnesota đã báo cáo rằng những người hút thuốc có ăn cá đều thì ít bị các chứng bệnh ngăn cản đường hô hấp như viêm phế quản mãn tính và bệnh khí thũng. Cuộc nghiên cứu bao gồm 8960 người, 55 phần trăm trong số đó là những người trước kia có hút thuốc và 45 % hiện đang hút thuốc, thấy rằng những người hiện nay hoặc trước kia có hút thuốc nhưng ăn cá bốn phần mỗi tuần chỉ bị  nửa nguy cơ mắc bệnh viêm phế quản so với những người hút thuốc chỉ ăn cá một hai lần mỗi tháng. Nguy cơ mắc bệnh khí thủng ở người ăn nhiều cá chỉ có một phần ba so với người ăn ít cá. Ăn cá bốn phần một tuần tương đương với mỗi ngày uống 1000 mg dầu cá (EPA hay DHA).

Osteoarthritis The first twinges of osteoarthritis usually make themselves felt at this lifestage. People who have played a lot of sport, especially if injury is sustained, are more likely to be affected, particularly in the knee. As recently as 1998, evidence emerged that the long-chain omega-3 fatty acids could help. Researchers found that cod liver oil (a good omega-3 supplement) not only alleviated the inflammation causing joint pain and stiffness, but could also inhibit the breakdown of cartilage (the 'gristle' that cushions the joints).

Thị giác Một cuộc nghiên cứu của Úc đã nối kết chế độ ăn uống với bệnh Thoái Hóa Võng Mạc Do Tuổi Già (age-related macular degeneration, AMD). Cuộc nghiên cứu hơn 3500 người ở tuổi 49 và trên nữa cho thấy việc ăn cá đều đặn ngăn cản được chứng thoái hóa võng mạc sớm hay trễ. Nguy cơ của người ăn cá hơn hai lần một tuần giảm được một nửa so với những người ăn cá ít hơn một lần mỗi tháng. Những người sử dụng nhiều thực phẩm cholesterol cao dễ phát triển AMD, trong khi những người ăn nhiều mỡ không bão hòa ít bị chứng AMD (tương đương với việc ăn cá hơn một lần mỗi tuần).

Tăng cường hệ thống miễn dịch

Đây là giả thiết cơ bản cho lập luận của đề mục này mà bạn có thể đồng ý hay không đồng ý: hệ thống miễn dịch của cơ thể nếu được làm cho khỏe mạnh và tăng cường, có thể chống lại sự tấn công của sinh vật tự nhiên khác. Vì thế sẽ có ý nghĩa nếu chúng ta tăng cường hệ thống miễn dịch của chúng ta. Điều này rất hữu ích, trong xã hội phương tây, người ta hay đợi đến khi có bệnh rồi mới uống thuốc mong cho cơ thể khỏe mạnh trở lại. Đối với tôi, điều này giống như mua một chiếc xe và lái cho tới khi nó hư mà không bảo trì, sau đó mới kêu người sửa.

Là một bác sĩ với phương pháp chữa bệnh cách khác, tôi nhấn mạnh đến phương pháp chữa bệnh không dùng thuốc. Điều rất quan trọng là hiểu biết và tin rằng cơ thể chúng ta có khả năng chữa bệnh tự nhiên, và khả năng bảo vệ chống lại bệnh tật. Điều này tôi đã nói trước đây nhưng dễ quên. Ở Châu Á, chúng ta làm việc lâu giờ và chúng ta bị tràn ngập bởi những quảng cáo thuốc. Những điều chúng ta nghe liên tục làm chúng ta dần dần tin. Khi làm việc ở Hong Kong năm trước, và nay ở Việt Nam, tôi ngạc nhiên vì những người có giáo dục biết khi bị bệnh tật họ phải có thuốc để chữa bệnh, thế mà ít người trong chúng ta biết cách phòng bệnh.

Vì thế, ở đây tôi chống lại hệ thống tuyên truyền quảng cáo thuốc: cơ thể chúng ta có thể tự chữa một cách tự nhiên. Cơ chế phòng ngừa bệnh tật của cơ thể là hệ thống miễn dịch. Ăn uống không đầy đủ chất dinh dưỡng và thuốc men sẽ làm yếu đi hệ miễn dịch và dẫn tới sự mất sức khỏe . Vì vậy dù công ty dược có cố gắng thuyết phục bạn bao nhiêu lần đi nữa điều ngược lại, thì bạn cứ tin rằng  phát biểu trên vẫn hoàn toàn đúng.

Sự lạm dụng dược phẩm, và sự thiếu thông tin liên quan đến việc tăng cường hệ thống miễn dịch đã làm cho hệ miễn dịch của người Mỹ chỉ còn hiệu quả 40 tới 50%. Ở một vài nước, cách ăn uống truyền thống đã tạo ra hệ miễn dịch mạnh mẽ hơn và có nhiều người sống khỏe mạnh hơn. Tôi sống ở Nhật và Hàn quốc trong những năm 1980, tôi ngạc nhiên thấy rằng có nhiều người già vẫn khỏe mạnh. Chí ít là ở Nhật, vấn đề này đã được nhiều người nghiên cứu và thấy rằng người Nhật (những người vẫn còn theo truyền thống ăn uống cổ truyền) có tuổi thọ trung bình dài hơn bình thường. Không phải tình cờ mà phụ nữ Nhật ở trong số những người sống lâu nhất.

Có rất nhiều tài liệu về chế độ ăn uống, chất bổ sung và cách giữ gìn sức khỏe giúp tăng cường hệ thống miễn dịch, ở đây không thể viết sâu rộng về đề tài này. Điều tôi hi vọng ở đây là cung cấp cho các bạn thông tin về một vài chất bổ sung đặc biệt và những phương pháp đã được hệ thống hóa để tăng cường khả năng miễn dịch. Trên hết, tôi hi vọng các bạn nghĩ đến việc giữ gìn sức khỏe.

Dầu hạt lanh và dầu cá

Ở phần trên tôi đã dành hẳn  một mục về các loại axit omega 3, vì thế ở đây tôi sẽ không đề cập nhiều đến chi tiết. Nhưng Omega 3 quan trọng đến nỗi cần phải nói về nó một lần nữa.

Tiêu thụ quá nhiều những loại mỡ bão hòa “xấu” có ít axít béo thiết yếu dẫn tới sự tích tụ mỡ gây ra béo phì và thoái hóa do mỡ. Khi những loại mỡ chưa bão hòa được thêm vào khẩu phần, thức ăn sẽ được cơ thể sử dụng tốt,  sự sản sinh năng lượng được tăng cường và mỡ sẽ ít bị tích tụ. Nguồn phong phú omega 3 là dầu cá. Nhưng các bạn phải cẩn thận vì dầu cá chưa mức cao thủy ngân. Dầu lanh mặc dù không tốt như dầu cá những là nguồn thực vật tốt nhất bổ sung omega 3. Nó có 55 tới 65 % omega 3 và 15 tới 25 % Omega 6. Axít béo Omega 6 là chất thiết yếu nhưng may mắn là không thiếu trong chế độ ăn uống của người Mỹ.

EFA và những dẫn xuất của nó có chức năng chủ yếu trong sự vận chuyển và biến dưỡng của hai loại cholesterol và triglycerides, giúp não phát triển bình thường, giúp chức năng não. Nó cần cho cấu trúc màng tế bào, tăng cường mức độ chuyển hóa, giúp hấp thu oxy, sản sinh năng lượng, làm chậm sự phát triển của tế bào ung thư, làm chậm phát triển vi khuẩn candida và vi khuẩn kỵ khí, sản sinh dịch tuyến tiền liệt và tạo ra chất dầu chống khô và nhăn da.

Các bệnh liên quan đến  chất mỡ bao gồm các bệnh về tim mạch, ung thư, béo phì, tiểu đường, viêm khớp, phong thấp, mụn trứng cá và những bệnh ngoài da khác, bệnh xơ cứng màng tế bào thần kinh (multiple sclerosis), xơ nang, teo tuyến (gladular atrophy), suyễn, thận, gan và các bệnh về túi mật. Ngoài việc tăng cường miễn dịch, dầu lanh còn chứng hiệu quả trong chữa trị các chứng: bệnh về tim mạch, ung thư, bứu, béo phì, tiểu đường, giảm đường huyết, các bệnh về da, teo tuyến, bệnh gan và túi mật, các bệnh thận, …

Sodim ascobate (Vitamin C). Ai cũng biết vitamin C tốt, ngăn ngừa được bệnh tật, ngay cả ung thư. Thế nhưng hầu hết mọi người chỉ dùng nó khi bị bệnh. Chúng ta đã trở nên chai lì trước giá trị của vitamin C, chúng ta đã nghe quá nhiều và quá thường xuyên về nó nên quên. Tuy thế nó vẫn giữ nguyên giá trị là một chất chống oxy hóa, và là chất bổ sung bảo vệ sức khỏe vẫn còn tồn tại.

Bột Sodium Ascorbate là một dạng vitamin c không có tính axít. Vitamin C có hoạt tính chống virút và vi khuẩn mặc dù tính chất chủ yếu của nó là cải thiện tính kháng bệnh trong vật chủ. Bột vitamin c (sodium ascorbate) có thể có ích trong lĩnh vực: tăng cường tổng quát miễn dịch, ngăn ngừa hoặc chống lại cảm lạnh, cúm, giúp vết thương mau lành, giúp cơ thể chống lại sự nhiễm trùng, …

Không giống như hầu hết các loại động vật khác có thể sản xuất ra vitamin c cho chính mình, cơ thể con người không tổng hợp được vitamin này. Để tăng cường khả năng miễn dịch hoặc chữa một bệnh nào đó người ta cần lượng vitamin c nhiều hơn khả năng thức ăn có thể cung cấp. Số lượng vitamin C bạn dùng mỗi ngày quyết định tính hiệu quả của nó. 60 mg mỗi ngày là liều được đề nghị sử dụng cho người lớn. Lượng này có thể nhận được từ trái cây và hoa quả tươi. 500 mg tới 5 gam mỗi ngày chứng tỏ có ích lợi trong việc phòng chống cảm lạnh, tăng cường miễn dịch tổng quát. Tuy vậy lượng vitamin C hơn 1 g chỉ có thể có được qua các nguồn bổ sung.

Để tăng cường miễn dịch, một muỗng nhỏ (chừng 4,5 mg) mỗi ngày đủ có hiệu quả. Nếu bạn có triệu chứng cảm lạnh, tôi đề nghị dùng liều 4 tới 5 mg (một muỗng nhỏ) mỗi giờ. Nếu cách điều trị này được bắt đầu từ giai đoạn đầu tiên, cảm lạnh sẽ không thể phát triển được. Nếu cảm lạnh đã phát triển, việc điều trị sẽ làm giảm ảnh hưởng của cảm lạnh và đẩy nhanh sự hồi phục. Hòa tan bột trong nước (hay nước trái cây nếu bạn thấy nó có mùi vị khó chịu) là một cách thức sử dụng được đề nghị.

Sodium Ascorbate là nguồn bổ sung vitamin C được biết đến nhiều nhất mặc dù còn có những chất khác như: Calcium Ascorbate.
Ngày nay Calcium Ascorbate được biết đến nhiều như Sodium Ascorbate. Nếu bạn không tìm được Sodium Ascorbate thì Calcium Ascorbate cũng có cùng hiệu quả như thế. Lợi ích của calcium ascorbate là nó có thể cung cấp canxi, cũng là chất cần thiết cho cơ thể, ở một dạng mà cơ thể có thể hấp thu được.

Magnesium Ascorbate

Chúng ta cũng cần magnesium để cơ thể có thể sử dụng được canxi, vì thế hình thức vitamin C này cũng là một chất cung cấp dinh dưỡng cần thiết khác.

Potassium Ascorbate

Thêm vào chất này có thể làm hạ áp huyết.

Zinc Ascorbate

Kẽm có thể thêm vào để tăng cường hệ thống miễn dịch.

Maganese Ascorbate

Crôm Ascorbate

Các loại thực phẩm tăng tính miễn dịch:

Ớt Cayenne (Capsicum) hay cayenne Red Pepper.

Loại ớt này đã chứng tỏ là một trong những loại rau có lợi ích nhất trong các loại rau lá làm thuốc. Nhiều nhà chữa bệnh bằng lá cây đã nói rằng nếu họ chỉ có thể chọn lựa một loại rau lá họ sẽ chọn Ớt Cayenne.

Ớt cayenne được biết tới nhờ lợi ích đối với hệ tuần hoàn. Nó giúp cơ thể quân bình mức áp lực và chống lại sự chảy máu bất bình thường. Ớt Cayenne cũng được sử dụng như một trợ giúp tiêu hóa tổng quát: Nó kích thích sản sinh ra dịch tiết bao tử, cải thiện biến dưỡng, và giúp giảm chất khí. Nó cũng có lợi ích đối với mỡ trong máu, tuy nhiên điều này đang được nghiên cứu, điều tốt nhất về ớt chuông là nó rẻ, dễ kiếm. Và hầu hết ai cũng thích ớt. Tôi đã thử dùng ít nhất 1 trái ớt tươi mỗi ngày trong nhiều năm. Điều này nghe kỳ lạ và không có vẻ hấp gì dẫn, tuy nhiên bạn đừng phán đoán và hãy thử dùng xem.
 Năm 1987 một cuộc nghiên cứu được công bố trong Tập San Sinh Học, chuột được cho ăn ớt cayenne lượng cao giảm được triglyceride và lipoprotein mật độ thấp (LDL) hay cholesterol không tốt trong máu. Capsaicin, một hợp chất tìm thấy trong ớt cayenne là một chất kháng viêm. Trong những năm gần đây, ớt cayenne đã được sử dụng thành công để chữa trị bệnh nhức đầu từng cơn, một loại nhức đầu rất khó chịu. Dùng ngoài da, ớt cayenne giảm được sự tê cứng và đau do thấp và viêm khớp.

Ớt cayenne là chất tăng cường miễn dịch tổng quát và chữa được hầu hết nhiều bệnh lặt vặt.

Nghỉ ngơi, thư giãn và suy nghĩ tích cực.

Có lẽ stress làm cho chúng ta bị suy giảm hệ miễn dịch và dẫn tới bệnh tật nhiều nhất. Cảm xúc tiêu cực như lo lắng và tức giận cũng làm suy giảm hệ miễn dịch của chúng ta. Vì thế để tăng cường hệ miễn dịch và cải thiện chất lượng cuộc sống cần khống chế stress và diệt trừ cảm xúc tiêu cực. Điều này nói thì dễ hơn làm. Nếu nó đơn giản chúng ta tất cả đã trở thành những người hạnh phúc. Để bắt đầu có tiến bộ trong khống chế tư tưởng và diệt trừ cảm xúc thật là khó. Nhưng điều này có thể làm được và lợi ích của nó thật là lớn, đáng để chúng ta cố gắng. Michel Sasso, người cộng tác với tạp chí này đã dạy tôi bằng cách nêu gương, người ta có thể làm chủ được sức khỏe đơn giản chỉ bằng nhận thức được tư tưởng của mình và thực hành một số kỹ thuật để cải thiện nó.

Ông là nhà tâm linh và một người tích cực, có một thời gian biểu đi lại khắp thế giới, sự nghiệp tìm tòi và giảng dạy của ông tương đương với những nhà quản trị hàng đầu (CEOs) ở Hong Kong. Thế mà ngày làm việc của ông nhẹ nhàng, thanh thản, đầy năng lực, hăng hái và hạnh phúc nhờ sự thiền định. Theo sự đánh giá của tôi, ông còn có năng lực và khỏe mạnh hơn hầu hết những người chỉ bằng nửa hay một phần ba tuổi mình.

Tôi còn rất lâu mới đạt được trạng thái bình an nội tâm và khống chế được cảm xúc của mình như Michel. Nhưng người như ông là một tham chiếu cho tất cả chúng ta. Họ là bằng chứng sống động cho thấy sự tập luyện và tư tưởng tích cực có thể cải thiện sức khỏe toàn diện. Và chúng ta không cần phải leo lên tới đỉnh núi và ngồi trong hang đá để thực hành những kỹ thuật này.

Sau đây là một số phương pháp thiền phổ biến đã được sử dụng có hiệu quả:

Bài tập cơ thể

Một tiết mục trong tờ International Journal of Sports Medicine diễn giải ảnh hưởng của tập luyện cơ thể đối với các bệnh nhiễm. Chỉ với 45 phút đi bộ mỗi ngày có thể hạ thấp những triệu chứng đường hô hấp trên, có thể làm giảm một nửa bệnh tật và tăng cường hoạt động tự nhiên của các tế bào sát thủ (tế bào có chức năng tiêu diệt tế bào bệnh hay tế bào nhiễm virút) ở những người có khuynh hướng nhiễm bệnh đường hô hấp.

Tập thể dục kích thích sự tuần hoàn, phát triển bắp thịt, cải thiện chức năng tim và tăng cường hệ thống miễn dịch. Thể dục cũng giúp loại trừ chất độc trong cơ thể. Tập thể dục cũng là cách thức quan trọng để loại trừ những độc chất sinh ra trong quá trình hoạt động của cơ thể hay những chất hóa học nhân tạo cơ thể đã hấp thu. Trước hết khi chúng ta tập thể dục chúng ta thở sâu hơn, mạnh hơn và nhiều lần hơn. Như thế chúng ta thải ra được chất độc là những sản phẩm phụ qua phổi. Thứ hai, khi tập thể dục chúng ta bài tiết mồ hôi. Sự bài tiết mồ hôi cũng là một cách thải những chất biến dưỡng cặn bã khỏi cơ thể. Cuối cùng sự hoạt động là cách thức duy nhất để chuyển vật liệu thải qua mạch bạch huyết. Nếu chúng ta không chảy mồ hôi, không thở mạnh và không vận động bắp thịt, những chất độc trên lưu lại trong cơ thể chúng ta và làm bẩn bộ máy sinh hóa cấu thành nên hệ thống miễn dich hiệu quả. Kết quả là bị bệnh.

Trong thập niên tám mươi có  khẩu hiệu “không gian khổ, không thắng lợi” (no pain, no gain). May thay khẩu hiệu này đã nhường chỗ cho nhận thức thực tế là thể dục nhẹ nhàng có nhiều lợi ích cho sức khỏe cũng như thể dục mạnh. Thể dục nhẹ nhàng điều hòa cũng có lợi là ít bị chấn thương. Thực vậy, sự tập luyện cường độ quá cao có thể tạm thời làm yếu chức năng miễn dịch. Nhiều người, kể cả tôi thích thể dụng mạnh, và những buổi tập chuyên sâu. Tuy nhiên điều đơn giản như đi bộ mỗi ngày sẽ giúp bạn tăng cường sức khỏe và sức đề kháng. Nếu bạn thích thể thao hay những môn giải trí vận động như khiêu vũ hay đi bộ đường dài thì cơ thể bạn đã có đủ sự vận động cần thiết. Điều chủ yếu là dù bạn sử dụng cách thức nào, bạn hãy tập luyện một cách điều đặn và vui vẻ!

Thiền

Thiền đã trở nên phổ biến ở phương Tây. Thiền cung cấp cách thức đơn giản để thư giãn, giảm stress, tăng cường hệ miễn dịch và tạo nên cơ thể khỏe mạnh và hạnh phúc trong cuộc sống. Các phương pháp thiền khác nhau nhiều và một số thuộc về hệ tôn giáo phức tạp và những thực hành thần bí. Tuy nhiên theo kinh nghiệm của tôi, thiền rất dễ  nhờ một số hướng dẫn đặc biệt lúc khởi đầu. 

Cuối cùng, việc sử dụng phương pháp thiền nào không quan trọng bằng kết quả muốn đạt được – một trí óc yên tĩnh, nhờ đó sẽ thúc đẩy bình an nội tâm và thư giãn. Có nhiều cách thiền khác nhau, lời khuyên của tôi là chọn cách nào phù hợp với hệ thống niềm tin của bạn và cá tính của bạn.

Mặc dù đã tập yoga nhiều năm, tôi là người mới thiền, việc tập luyện thiền của tôi bao gồm một số cuộc đi bộ lên đỉnh Lantu với một người bạn thân và một nhà thực hành yoga ở Vịnh Discovery Bay. Sau chuyến đi vất vả tới đỉnh, chúng tôi thường ngồi độ hai mươi phút trên đỉnh, nhìn xuống tượng Phật ngồi khổng lồ và anh ta chỉ tôi cách thức làm trống tâm trí và trở nhận thức được các ý tưởng của mình. Kết quả thật đáng ngạc nhiên. Mỗi lần với một số phút, tôi giải thoát mình khỏi những vấn đề rắc rối nhiều tuần lễ gặm nhấm tinh thần và tôi cảm thấy hạnh phúc hơn, hăng hái hơn và hạnh phúc đầy tràn nhiều ngày sau đó.

Có lẽ thiền cũng giống như vitamin C, bạn đã nghe về  nó nhưng có lẽ không thực sự nghĩ đến viêc thực hành. Bạn không quen thuộc lắm với thiền, đây là một số kỹ thuật tôi đề nghị:

Sự đơn giản

“Chẳng có gì cả về chuyện đó” là điều tôi thường nghe khi ai đó mô tả sự đơn giản một cách đại cương và nó hoàn toàn đúng. Nói một cách tổng quát, thiền đơn giản như việc bạn làm cho tâm trí mình phẳng lặng. Hãy tìm thời gian và tìm một chỗ yên tĩnh, lúc bạn không bị quấy rầy, nhắm mắt lại và quét sạch mọi suy nghĩ ra khỏi đầu của bạn. Ngồi như thế và cố gắng loại khỏi tâm trí của mình mọi tư tưởng và trải nghiệm sự bình an hoàn toàn, trong một khoảng thời gian mà bạn cảm thấy thoải mái. Thường người mới bắt đầu cảm thấy khó khăn khi thiền hơn năm hay mười phút. Nếu bạn thấy mình gặp tình huống này thì đừng thất vọng. Qua một thời gian Bạn sẽ thấy mình có thể ngồi lâu hơn. Khi bạn cảm thấy thoải mái rồi, hãy thử 15 phút và tiếp tục như thế cho đến khoảng thời gian mình thấy thích hợp. Nhiều nhà thiền có kinh nghiệm như Deepak Chopra, thiền ba mươi phút vào buổi sáng và tối, và thêm 30 phút vào buổi chiều nếu họ cảm thấy bị stress.

Thở

Cách thức thiền phổ biến và đơn giản nhất là tập trung hơi thở. Một cách tổng quát, muốn thiền bạn hãy tìm thời gian và địa điểm yên tĩnh không bị quấy rầy, nhắm mắt lại, không để một ý nghĩ gì làm vướng bận tâm trí. Sau đó, tập trung vào hơi thở. Tập trung việc hít vào và thở ra. Đây được gọi là sự thở có ý thức, trái với bình thường chúng ta không tập trung hay cố gắng điều khiển hơi thở, “thở tập trung” được giám sát và điều khiển một cách có ý thức. bạn chỉ việc “quan sát” hơi thở của bạn và cố gắng thở chậm theo một nhịp điệu tùy ý miễn là bạn cảm thấy thoải mái. Bằng cách tập trung vào hơi thở, bạn thu hút sự chú ý vào nó và triệt tiêu những ý nghĩ bất chợt, tạo ra cảm giác bình an bên trong tâm trí. Để giúp tập trung hơi thở, nhiều người thường hướng sự chú ý tới hơi thở qua mũi và luồng hơi ra khỏi miệng. Bạn cũng có thể tập trung chú ý tới sự phồng lên xẹp xuống của ngực. Hãy dùng bất cứ phương pháp nào bạn cảm thấy dễ chịu. Về vấn đề kiểm soát nhịp thở, một số người đếm số giây giữa mỗi lần thở và cố gắng duy trì nhịp điệu chậm có kiểm soát. Một số người không thích đếm. Có người dùng những kỹ thuật khác. Tôi đề nghị bạn dùng bất cứ phương pháp nào có hiệu quả.

Sự hình dung

Sự hình dung có thể dùng để đạt được một số kết quả khác nhau. Một sự hình dung đơn giản để giảm stress và có lợi cho sức khỏe như sau: trước hết hãy tạo cho mình sự yên tĩnh và bắt đầu như bạn thường làm trong thiền hay thở tập trung, sau đó hình dung bạn hít vào năng lượng hay ánh sáng hoàng kim/ trắng, và thở ra năng lượng xám, cũ. Màu trắng hay hoàng kim tượng trưng năng lượng mới, tươi trẻ, còn năng lượng xám tượng trưng stress, bất hạnh, lo lắng, tức giận và những xúc cảm tiêu cực bên trong. Hình dung này là một cách thức tuyệt vời để giải thoát khỏi stress và căng thẳng trong ngày, và giúp bạn thêm năng lượng. Nếu bạn có một bệnh tình đặc biệt nào đó bạn muốn thoát khỏi, hãy hình dung cùng một thứ ánh sáng trắng hay hoàng kim bao quanh vùng cơ thể bạn cần chữa bệnh. Tiếp tục tập trung năng lượng chữa bệnh này vào vùng cơ thể bị bệnh của bạn trong một khoảng thời gian nào bạn cảm thấy dễ chịu. Cố gắng lặp lại quá trình này mỗi ngày hoặc nhiều lần mỗi ngày, nếu bạn cảm thấy mình bị thôi thúc phải làm thế, thì cứ làm.

Yoga

Yoga tăng cường sức khỏe và sự dẻo dai, cải thiện tuần hoàn và giải thoát bạn khỏi những cơn đau kinh niên hay những cơn đau bình thường do tư thế. Bất cứ ai cũng có thể thực hành yoga. Bạn không cần phải trẻ, khỏe hay dẻo dai. Bạn bắt đầu từ nơi mình phát xuất.

Từ Yoga có nghĩa là Hợp nhất. Mặc dù nhiều người nghĩ rằng từ này có nghĩa là sự hợp nhất giữa tinh thần và thể xác, trí tuệ và tâm linh, ý niệm chính được chấp nhận là Hợp nhất giữa Jivatman và Paramatman, đó là giữa ý thức cá nhân và Ý Thức Hoàn Vũ. Vì thế Yoga nhắm đến một trạng thái ý thức cũng như cách thức giúp người ta đạt tới mục tiêu hay trạng thái hợp nhất với thượng đế (divine).
Mỗi cá nhân làm việc theo cách mình cảm thấy thoải mái dễ chịu khi lắng nghe thông điệp của cơ thể mình.

Khí công

Tôi không tập khí công, vì thế điều tôi nói với bạn là với tính cách tay ngang. Tuy nhiên có nhiều bằng chứng khoa học chứng minh sự ích lợi của việc thực hành khí công. Hồng Kông là một nơi lý tưởng để làm quen với nhiều hình thức võ thuật. Khí công là một môn của người Trung Hoa dùng để đạt được sức khỏe, kể cả việc đương đầu với căng thẳng và stress. Trong các môn võ thuật, có hai trường phái chính: trường phái võ thuật “cương” và trường phái võ thuật “nhu”. Trường phái sau được gọi là võ thuật nội tâm (internal arts). Điển hình về trường phái cương như karate và kung fu. Thí dụ về trường phái nhu như bagua và khí công.

Khí công nhấn mạnh đến sự thư giãn toàn diện, và chủ yếu nó là một hình thức thiền, hay “thiền trong vận động” (meditation in motion). Khác với môn võ thuật cương, khí công có đặc điểm vận động mềm dẻo, chậm, thanh thoát.

Để kết luận, tôi muốn nhấn mạnh một lần  nữa rằng cơ thể của chúng ta thật là kỳ diệu. Nó là cỗ xe chúng ta lái đi suốt cuộc đời. Và nó là điều duy nhất trong đời chúng ta không thể thay đổi hay trốn thoát khỏi nó. Vì thế sức khỏe trở nên cực kỳ quan trọng. Tôi hi vọng rằng đã cung cấp cho các bạn những thông tin hữu ích và kiến thức về cách chăm sóc sức khỏe của mình.