THƯƠNG TỔN MẮT CÁ CHÂN

Trặc mắt cá là điều xảy ra rất thường xuyên. Mỗi ngày hàng ngàn người bị chấn thương này. Ai cũng có thể bị trặc mắt cá, lực sĩ và những người không phải lực sĩ. Nó xảy ra khi bạn tham gia hoạt động thể thao và hoạt động thể dục. Nó cũng có thể xảy ra khi bạn bước lên mặt không bằng phẳng, hay bước ở một góc nghiêng.

Ở mắt cá dây chằng giữ cố định xương mắt cá và khớp tại chỗ. Chúng bảo vệ khớp mắt cá ở các cử động bất thường như xoay, vặn bàn chân.

Dây chằng là một cấu trúc đàn hồi. Nó có thể dãn trong giới hạn, và trở về tình trạng bình thường. Khi dây chằng bị dãn quá giới hạn, trặc mắt cá xảy ra. Trặc mắt cá nặng có thể gây rách các sợi đàn hồi.

Trặc mắt cá xảy ra như thế nào

Trặc mắt cá xảy ra khi bàn chân vặn, xoay ra khỏi giới hạn bình thường của nó. Một lực lớn được truyền đi khi bàn chân chạm đất. Bạn có thể làm trặc mắt cá khi chân đặt lên mặt đất không bằng phẳng, lực bước lớn hơn bình thường. Điều này làm cho dây chằng căng ra quá mức bình thường tại một vị thế không bình thường.

Nếu bàn chân nghiêng quá mức ra ngoài hay vào trong  so với mắt cá, lực tác động làm cho dây chằng dãn quá giới hạn bình thường. Nếu lực này quá mạnh, dây chằng có thể rách. Bạn có thể mắt thăng bằng khi bàn chân đặt lên mặt đất không bằng phẳng. Bạn có thể ngã và có thể nghe thấy một tiếng “bộp”. Kết quả là rất đau và sưng lên.

Mức độ lực đặt vào tạo ra loại bong gân. Bong gân nhẹ là mức độ 1, trung bình là mức độ 2, và nặng là mức độ 3. (xem bảng)

Bong gân mức độ 1: Dây chằng hơi dãn và sợi đàn hồi rách đôi chút.

Bong gân mức độ 2: Dây chằng rách một phần. Nếu xem xét kỹ và cử động ở một số hướng sẽ thấy sự lỏng lẻo bất bình thường ở khớp mắt cá.

Bong gân mức độ 3: Dây chằng đứt hoàn toàn. Người khám sẽ thấy tình trạng mất co duỗi (instability) khi kéo hay đẩy khớp mắt cá ở một hướng nào đó.

3 mức độ nghiêm trọng của chấn thương trặc mắt cá

Mức nghiêm trọng

Tình trạng vật lý

Sự sai lệch

Bệnh lý học

Chữa trị tiêu biểu

Mức độ 1

Sưng mẫn cảm nhẹ

Nhỏ

Sợi đàn hồi bị rách nhẹ

• Đeo tạ ở mức độ chịu được
• Không cần bó bột/không cần nẹp
• Thể dục đẳng hình
• Các bài tập thể dục cử động tầm rộng, co duỗi, vận động mạnh ở mức có thể chịu được

Mức độ 2

• Sưng, mẫn cảm mức độ trung bình
• Phạm vi cử động giảm
• Có thể có tình trạng không co duỗi ở một hướng nào đó

Trung bình

Đứt một số sợi đàn hồi nhưng không phải toàn bộ trong dây chằng

• Cố định bằng nẹp hơi
• Vật lý trị liệu ở một phạm vi cử động các bài tập co duỗi tăng cường

Mức độ 3

• Sưng phồng nhiều
• Quặt quẹo

Nặng

Dây chằng hoàn toàn đứt

• Cố định
• Vật lý trị liệu giống mức độ 2 nhưng trong thời gian kéo dài
• Có thể cần giải phẫu xếp lại cấu trúc

Đánh giá và điều trị trặc mắt cá

Nếu đau mắt cá nặng hay kéo dài cần phải đi bác sĩ khám. Có thể phải chụp x-quang để xem có bị gẫy xương không. Gãy xương ở mắt cá có thể có những triệu chứng tương tự như trặc mắt cá.

Dây chằng bị thương có thể trở nên mẫn cảm. Nếu xương không bị gãy, bác sĩ có thể cho biết mức độ trặc mắt cá căn cứ vào mức độ sưng, đau hay bầm tím.
Khám nghiệm có thể gây đau đớn. Bác sĩ cần phải xoay mắt cá theo những hướng khác nhau để biết được dây chằng nào bị đau hay rách.

Khi dây chằng rách hoàn toàn, mắt cá có thể trở nên quặt quẹo (unstable) sau giai đoạn đầu tiên. Nếu điều này xảy ra có thể bề mặt khớp mắt cá bị tổn thương.

Bác sĩ có thể cho chụp MRI (hình cộng hưởng từ) nếu nghi ngờ dây chằng bị tổn thương nghiêm trọng, bề mặt khớp bị thương hay có một mảnh xương vỡ. Hình chụp MRI có thể xác định sự chẩn đoán chính xác. Sau khi hết sưng có thể cần chụp lại hình cộng hưởng từ (MRI).

Triệu chứng: Mức độ đau tùy thuộc vào tình trạng dãn hay rách của dây chằng. Tình trạng quặt quẹo xảy ra khi đứt hoàn toàn dây chằng hay trặc khớp mắt cá hoàn toàn.

Điều trị trặc mắt cá

Cách thức điều trị tùy thuộc vào tình trạng vết thương

Đi đứng có thể khó khăn vì sưng và đau. Có thể bạn cần tới nạng nếu đi đứng thấy  đau. Thường sưng và đau kéo dài hai tới ba ngày. Tùy mức độ vết thương bác sĩ có thể cho bạn sử dụng dụng cụ nhựa tháo ra được như ủng hay nẹp khí. Hầu hết trặc mắt cá chỉ cần một thời gian bảo vệ là lành. Quá trình lành mất từ bốn tới sau tuần. Bác sĩ có thể khuyên bạn tập luyện một số động tác để phòng ngừa tình trạng bị cứng mắt cá. Động tác tập luyện cũng giúp mắt cá nhận định được vị trí, phương hướng. Dây chằng đứt hoàn toàn cũng có thể chữa lành được mà không cần phẫu thuật nếu được cố định đúng cách. Nếu mắt cá có vết rách kinh niên nó vẫn có thể làm được chức năng của mình nhờ dây chằng bên trên giúp cố định và cử động.

Trặc mắt cá mức độ 1 áp dụng công thức nghỉ ngơi, chườm đá, cố định và kê cao:

  • Để cho mắt cá nghỉ ngơi bằng cách không đi lại.
  • Nên chườm đá để chống sưng. Có thể chườm 20 tới 30 phút ba hay bốn lần mỗi ngày. Chườm đá và quấn có thể giảm sưng, giảm đau.
  • Băng bó lại để cố định và nâng đỡ mắt cá bị thương.
  • Kê mắt cá cao hơn độ cao của tim trong 48 giờ.

Trặc mắt cá mức độ 2, cũng áp dụng công thức trên nhưng kéo dài thời gian hơn. Chúng tôi có thể dùng dụng cụ để cố định hay dùng nẹp mắt cá.

Trặc mắt cá mức độ 3 gây ra tình trạng mất ổn định nhưng ít khi cần đến giải phẫu. Có thể phải bó bột mắt cá  hay nẹp trong thời gian hai hoặc ba tuần.

Đau mắt cá kinh niên

Đối với mọi mức độ trặc mắt cá, điều trị và phục hồi rất quan trọng để phòng ngừa các loại đau mắt cá mãn tính. Thủ thuật thần kinh có thể giảm bớt trặc mắc cá, giảm sưng và thúc đẩy phục hồi nhanh chóng. Siêu âm và điện châm có thể được dùng khi cần để làm giảm đau và sưng. Lúc đầu các bài thể dục pục hồi có thể bao gồm các cử động hay động tác mắt cá không có đối lực. Sau đó có thể đưa vào đối lực. Các bài tập huấn luyện tự nhận thức vận động (proprioception) rất quan trọng, sự nhận thức vận động kém là nguyên do gây ra trặc mắt cá lặp đi lặp lại và khớp mắt cá không vững. Khi không còn đau nữa, những bài tập khác có thể thêm vào, mục đích là tăng cường sức mạnh và tăng phạm vi cử động khi mức độ giữ cân bằng đã cải thiện theo thời gian. Trặc mắt cá thường phục hồi qua ba giai đoạn:

  • Giai đoạn 1 bao gồm nghỉ ngơi, bảo vệ mắt cá và làm giảm viêm (một tuần).
  • Giai đoạn 2 bao gồm phục hồi cử động, phục hồi lực và độ dẻo dai (một tới hai tuần).
  • Giai đoạn 3 bao gồm dần dần tập động tác không đòi hỏi xoay hay vặn mắt cá và các bài tập duy trì. Sau đó tập các động tác mạnh bạo như trong quần vợt, bóng rổ hay bóng đá (vài tuần tới vài tháng).

Ngăn ngừa trặc mắt cá và ngăn ngừa tái diễn

  • Chú ý đến mặt phẳng trên đó bạn đi, đứng, chạy nhảy và làm việc
  • Khởi động trước khi tập thể dục và trước khi thực hành các động tác mạnh bạo
  • Mang giày thể thao thích hợp
  • Đặc biệt chú ý cẩn thận khi bạn bị mệt.

Trặc mắt cá cấp hoặc mãn

Nếu bạn đã bị trặc mắt cá trước đây, bạn có thể tiếp tục bị trặc mắt cá nếu dây chằng không có thời gian hồi phục hoàn toàn. Nếu bị trặc mắt cá thường xuyên và cơn đau tiếp tục từ bốn tới sáu tuần, bạn đã bị trặc mắt cá mãn. Nên tránh những hoạt động có thể làm tình trạng trặc mắt cá nặng hơn như bước trên mặt phẳng không bằng phẳng, những môn thể thao đòi hỏi phải xoay vặn bàn chân như chạy đua, bóng rổ, quần vợt, bóng đá.

Biến chứng của trặc mắt cá có thể là nhận thức vận động bất bình thường (abnormal proprioception). Sự mất cân bằng và bắp thịt yếu làm cho tái diễn lại chấn thương này. Nếu tái diễn thường xuyên, tình trạng mãn gây ra mất ổn định, đây là cảm giác bàn chân không còn sức lực và đau kéo dài. Điều này xảy ra khi bạn trở lại làm việc, hoạt động thể thao khi trặc mắt cá chưa khỏi hẳn và phục hồi.

Cách chữa trị: Phẫu thuật

Điều trị bằng phẫu thuật đối với trặc mắt cá là điều hiếm. Phẫu thuật chỉ được sử dụng khi cách điều trị bình thường không hiệu quả, và khi tình trạng mất ổn định kéo dài sau nhiều tháng phục hồi.

Điều trị phẫu thuật bao gồm:

  • Nội soi: Nhà phẫu thuật nhìn vào trong khớp để xem có mảnh xương, sụn vỡ kẹt bên trong khớp hay không.
  • Phục hồi cấu trúc: khâu dây chằng bị đứt hoặc vá lại dùng gân hay dây chằng ở bàn chân và xung quanh mắt cá.

Phục hồi

Phục hồi sau phẫu thuật đòi hỏi thời gian và chăm sóc để phục hồi lại sức mạnh và tầm vận động như trước khi bị chấn thương. Thời gian phục hồi tùy thuộc vào tình trạng thương tật và mức độ giải phẫu. Sự phục hồi có thể từ vài tuần tới vài tháng.